Chào mừng quý vị đến với website của Lê Minh Đức

chuyên đề sử 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Minh Đức
Ngày gửi: 20h:47' 22-11-2012
Dung lượng: 342.0 KB
Số lượt tải: 153
Số lượt thích: 0 người
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN THCS NĂM HỌC 2010

Chủ đề: Biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THCS
I. Mục tiêu:
1. Về kiến thức cung cấp:
- Những kiến thức cơ bản về vị trí, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của lịch sử địa phương.
- Những kiến thức về công tác sưu tầm và sử lý nguồn tư liệu lịch sử địa phương.
- Những kiến thức về công tác biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THCS.
2. Về kỹ năng:
- Bồi dưỡng và rèn luyện kỹ năng tổ chức, sưu tầm tư liệu và biên soạn lịch sử địa phương.
- Bồi dưỡng khả năng biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THCS.
3. Về thái độ:
- Bồi dưỡng ý thức và tình cảm đối với quê hương và địa phương công tác.
- Bồi dưỡng ý thức và vị trí của lịch sử địa phương trong lịch sử dân tộc.
II. Nội dung
Tri thức lịch sử địa phương chính là những biểu hiện cụ thể sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc.
Nghiên cứu lịch sử dân tộc muốn hoàn chỉnh phải nghiên cứu lịch sử địa phương.
Nghiên cứu lịch sử địa phương là một biện pháp quan trọng để gắn học với hành, lý luận trong sách vở với thực tiễn xã hội, bổ sung nguồn tài liệu phong phú sinh động để biên soạn bài giảng lịch sử địa phương theo chương trình của Bộ GD- ĐT ở trường THCS, chúng tôi thấy cần phải củng cố những kiến thức cơ bản về vị trí, đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu lịch sử địa phương. Những nội dung cơ bản của công tác nghiên cứu biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THCS. Cung cấp một số kiến thức về lịch sử địa phương của Hà Nội giúp giáo viên THCS có thể tham khảo để giảng dạy
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
1. Khái niệm lịch sử địa phương
Địa phương được hiểu theo nghĩa cụ thể là những đơn vị hành chính của một quốc gia , đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã ,thôn, bản, mường, ấp vv… , các vùng đất, khu vực nhất định.
Lịch sử địa phương là lịch sử của các vùng miền, các làng, xã huyện tỉnh hay khu vực. Lịch sử địa phương còn bao hàm lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu,các trường học, cơ quan xí nghiệp vv… Vì xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đó đều gắn với một địa phương nhất định , song nội dung của nó mang tính kỹ thuật chuyên môn,do vậy có thể xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành.
Như vậy bản thân lịch sử địa phương rất đa dạng phong phú cả về nội dung và thể loại.
2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Đối tượng:
Có ba đối tượng nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nghiên cứu các đơn vị hành chính của một quốc qia, các thôn,huyện, tỉnh thành phố vv… Nghiên cứu đối tượng này có nhiều thể loại phong phú,ví dụ :
+ Thông sử địa phương.
+ Lịch sử Đảng bộ địa phương.
+ Lịch sử phong trào cách mạng địa phương.
+ Lịch sử phát triển kinh tế văn hóa ở địa phương.
+ Những truyền thống tốt đẹp của địa phương trong lịch sử.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu:
* Đối tượng:
- Nghiên cứu các sự kiện hiện tượng lịch sử của một vùng có liên quan đến những sự kiện biến cố trong lịch sử dân tộc. Cũng có thể nghiên cứu về một trận đánh, một chiến dịch, một nhân vật lịch sử nổi tiếng.
- Nghiên cứu các đơn vị sản xuất,các cơ quan ngành, trường học, các tổ chức đoàn thể quần chúng
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
* Đối tượng:
* Nhiệm vụ:
- Với các đối tượng nói trên, lịch sử địa phương có nhiệm vụ nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống sâu sắc về lịch sử của nó.
- Khi nghiên cứu một đối tượng cụ thể phải đặt nó và nghiên cứu nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh lịch sử chung , chỉ ra được sự tác động ảnh hưởng của hoàn cảnh chung đến đối tượng nghiên cứu, từ đó rút ra những đăc điểm của địa phương.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3. Phương pháp nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương.
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
Nếu không có tài liệu lịch sử sẽ không thể có các công trình lịch sử, nhất là lịch sử địa phương được lưu giữ trong các thư viện hoặc ghi chép trong các sách báo ít hơn rất nhiêu so với những vấn đề chung của toàn quốc, nên cần phải sưu tầm, phát hiện tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Để tiến hành sưu tầm tài liệu có kết quả cần thấy rõ công tác tổ chức sưu tầm tài liệu có mối quan hệ chặt chẽ với công tác biên soạn. Nội dung chủ đề và thể loại của một tác phẩm lịch sử địa phương sẽ chi phối và quyết định cách thức, nội dung tài liệu cần sưu tầm.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
Các nguồn tài liệu cần sưu tầm bao gồm: Sử liệu vật chất, sử liệu thành văn, sử liệu truyền miệng.
- Sử liệu vật chất (sử liệu hiện vật ): Bao gồm các di vật khảo cổ ( các công cụ lao động, đồ trang sức, vũ khí vv… ).Các công trình kiến trúc nghệ thuật, các di tích lịch sử cách mạng ở địa phương .
+ Ưu điểm: phản ánh khá trung thực đúng đắn khách quan hiện thực lịch sử nhất là khi chữ viết chưa ra đời.
Tuy nhiên muốn sử dụng được nguồn tài liệu này đòi hỏi phải có phương pháp như: Đối chiếu, xác minh phải có một trình độ hiểu biết về các khoa học hỗ trợ nhất là khảo cổ học. Sử liệu tượng hình như: Đền, đình, chùa, tháp, cung điện, những bức trạm nổi vv…. Qua đó ta có thể tìm hiểu được trình độ văn hóa tinh thần của cư dân đương thời, hiểu được quan niệm của người xưa về thế giới vũ trụ.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
- Sử liệu thành văn ( sử liệu viết ) : Đây là nguồn sử liệu giữ vị trí hàng đầu trong các nguồn tài liệu lịch sử địa phương. Sử liệu thành văn bao gồm những loại chính yếu sau:
+ Văn bia, minh chuông
+ Gia phả
+ Đinh bạ, địa bạ
+ Văn bản chính quyền, Đảng bộ các đoàn thể địa phương
+ Hồi ký
+ Sử liệu dân tộc học
+ Sử liệu ngôn ngữ học
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
- Sử liệu thành văn ( sử liệu viết )
+ Văn bia, minh chuông
Văn bia thường có hai loại là bia “ hậu” và bia “ sự kiện”.
Bia “hậu” là loại bia khắc tên tuổi những người trong địa phương đóng góp tiền của cho làng xã để xây dựng đình chùa hoặc thanh toán một khoản thuế lớn cho nhân dân địa phương đối với nhà nước, bia thường được để ở đình hoặc chùa để dân làng ghi nhớ, trên tiêu đề tấm bia có ghi chữ “hậu”
Bia “sự kiện” trên tiêu đề không có chữ “hậu”, thường ghi lại sự nghiệp của một nhân vật lịch sử hoặc một trận chiến đấu quan trọng của nhân dân địa phương về tài sản ruộng đất của các quan chức, về việc thành lập chợ hay lịch sử của một vị thành hoàng làng.
Minh chuông là các bài khắc trên chuông thông thường là chuông đồng để ở các chùa, chủ yếu nói về sự tích các nhà chùa và các vị tu hành ở chùa.
 Văn bia và minh chuông chứa đựng những tư liệu có giá trị góp phần nghiên cứu, biên soạn giảng dạy lịch sử địa phương trên một số khía cạnh kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
- Sử liệu thành văn ( sử liệu viết )
+ Gia phả
Là cuốn lịch sử của mỗi tộc họ ( còn gọi là tộc phả) dùng để ghi nhớ những truyền thống của tổ tông gia đình cho hậu thế. Loại sử liệu này rất quý đối với công tác nghiên cứu lịch sử địa phương, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề hay từng chủ đề, chuyên đề nghiên cứu về địa phương.
+ Đinh bạ, địa bạ
Đinh bạ: là sổ đinh, sổ ghi tên tuổi các thành viên của từng làng xã đến tuổi trưởng thành dưới chế độ phong kiến. Qua đó có thể nắm được tình hình thay đổi dân số của địa phương qua các thời kỳ .
Địa bạ: còn gọi là sổ điền, ghi lại tình hình các loại ruộng đất của làng xã. Đây là một nguồn sử liệu rất quý hiếm, giúp chúng ta hiểu biết được cụ thể tình hình chế độ chiếm hữu và sở hữu ruộng đất nông nghiệp và đời sống cư dân mỗi địa phương.
+ Văn bản chính quyền, Đảng bộ các đoàn thể địa phương
Từ sau cách mạng Tháng Tám – 1945, các tài liệu này được viết bằng chữ quốc ngữ, có số lượng lớn và được lưu giữ, rất cần thiết phải sưu tầm.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
- Sử liệu thành văn ( sử liệu viết )
+ Hồi ký
Là một loại tài liệu kể lại cuộc đời và hoạt động của một cá nhân thường là của những cán bộ, chiến sĩ, cách mạng lão thành của địa phương Đây là một nguồn sử liệu có giá trị cung cấp thêm nhiều sự kiện có quan hệ đến lịch sử các làng, xã, huyện, tỉnh, giúp chúng ta biên soạn lịch sử địa phương sinh động, phong phú, hấp dẫn, nhưng cần có sự đối chiếu, kiểm tra lại.
+ Sử liệu dân tộc học
Loại này cho biết về nền văn hóa vật chất tinh thần sinh hoạt xã hội của con người như phong tục tập quán hội tụ nghi lễ, nó bổ sung cho các tư liệu thành văn khảo cổ học để tìm hiểu đặc điểm văn hóa, truyền thống và mối quan hệ giữa các tộc người trên đất nước ta.
+ Sử liệu ngôn ngữ học
có hai loại phổ biến là phương ngôn và địa danh


MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1.Công tác sưu tầm tài liệu
- Sử liệu thành văn ( sử liệu viết )
+ Sử liệu ngôn ngữ học
Có hai loại phổ biến là phương ngôn và địa danh
Phương ngôn: là tiếng nói của cư dân một địa phương nằm trong tiếng nói chung của một dân tộc nhưng có những sắc thái riêng do điều kiện lịch sử tạo nên. Phương ngôn thường được tồn tại ở những vùng đất cổ hoặc chậm tiến, qua đó ta có thể làm rõ được một số vấn đề như nguồn gốc của nhóm người nói phương ngôn đó, thời điểm họ đến địa phương giúp ta hiểu được tiếng nói gốc của dân tộc.
Địa danh: bất cứ địa phương nào cũng có tên. Đây là một nguồn tư liệu quý phong phú, một loại biên niên sử độc đáo, cần được khai thác, sử dụng, nhất là tên làng xã và thường có hai loại, một loại thường gọi là tên Hán Việt như Văn Điển, Ngọc Hà… Một loại có cả tên chữ và tên dân gian ( tên nôm) như Yên Lãng là Láng, Cổ Nhuế là Kẻ Noi, Dịch Vọng là Làng Vòng…. Thông thường những làng có hai tên là Hán Việt và Nôm là những làng cổ hơn. Dựa vào sự khác nhau qua cách đặt tên làng, cách phiên âm chúng ta có thể suy đoán được thời điểm ra đời tên làng để tìm hiểu thời gian thành lập các làng xã.


MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.1. Công tác sưu tầm tài liệu
- Sử liệu truyền miệng (chuyện kể dân gian, những câu chuyện truyền lại trong lễ hội, hội làng )
Tài liệu này giúp ta biên soạn và giảng dạy hấp dẫn, truyền cảm nhưng phải lưu ý gạt bỏ những yếu tố hư cấu hoang đường.
3.2. Biên soạn lịch sử địa phương
Để biên soạn một cuốn sử địa phương gồm các bước như sau:
- Bước một: Xác định mục đích yêu cầu của cuốn sách là viết lịch sử gì (thông sử hay chuyên đề tức là xác định (đối tượng biên soạn ), viết để phục vụ độc giả nào (đối tương phục vụ ),phục vụ yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng nào của địa phương và cả nước.
- Bước hai: Xây dựng đề cương biên soạn. Đề cương phải được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp các tài liệu đã được giám định. Đề cương phải chi tiết, cụ thể, đây là bố cục của cuốn sách cần được cấu tạo chặt chẽ, cân đối, hợp lý, mạch lạc,lôgíc, các tiêu đề cần ngắn gọn rõ hấp dẫn. Sau đó phải được trao đổi, thảo luận trong nhóm biên soạn và cuối cùng cần được lãnh đạo địa phương thông qua.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
3.2. Biên soạn lịch sử địa phương
- Bước ba: Phân công người biên soạn từng phần ( do chủ biên ) hay do một người chịu trách nhiệm chung và một tập thể giúp đỡ góp ý kiến. Việc biên soạn biên soạn cần có dự kiến thời gian hoàn thành bản thảo.
- Bước bốn: Sau khi hoàn thành bản thảo, đưa ra thông qua nhóm biên soạn toàn văn, bổ sung sửa chữa, sau đó trình bày ở hội nghị tập thể để bổ sung thêm ý kiến.
- Bước năm: Biên soạn lại, hoàn chỉnh bản thảo lần cuối đưa cấp trên duyệt.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4. Biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THCS
4.1. Vị trí ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THCS
- Lịch sử địa phương là một trong những nguồn quan trọng làm phong phú tri thúc của học sinh về quê hương mình.
- Góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng chính trị lao đọng thẩm mỹ cho học sinh.
- Thể hiện mối quan hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc.
- Giáo dục lòng tự hào về quê hương cho học sinh.
- Giáo dục cho học sinh lòng yêu lao động, giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của nhân dân địa phương
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.2. Biên soạn bài giảng lịch sử địa phương ở trường THCS
Theo chương trình THCS của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì môn lịch sử có số tiết tiết dạy và học lịch sử địa phương như sau:
- Lớp 6 có 2 tiết; lớp 7 có 4 tiết; lớp 8 có 2 tiết; lớp 9 có 2 tiết. Tuy nhiên không có quy định cụ thể nội dung từng tiết .Vì vậy giáo viên phải tự thu thập tài liệu soạn bài…
- Công việc cần thiết để biên soạn một bài giảng lịch sử địa phương như sau:
Sưu tầm tài liệu: Thông thường sử dụng ba loai tài liệu chủ yếu là sử liệu thành văn, sử liệu hiện vật, tài liệu truyền miệng.
Việc sử dụng lịch sử địa phương vào việc biên soạn bài giảng lịch sử địa phương là một trong những yêu cầu quan trọng nhất để thực hiện việc dạy học gắn liền với đời sống.
Về hình thức tiển hành bài học nội khóa lịch sử địa phương có thể ở trên lớp và day một bài lịch sử địa phương tại thực địa.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.2. Biên soạn bài giảng lịch sử địa phương ở trường THCS
- Về biên soạn bài giảng lịch sử địa phương ở trường THCS trong giờ nội khóa chúng tôi xin gợi ý như sau:
Xác định mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của việc biên soạn bài giảng lịch sử địa phương. Việc làm này có ý nghĩa định hướng cho nội dung phương pháp trong giảng dạy. Cần thấy rằng, giảng dạy lịch sử địa phương là một trong nhiều phương tiện góp phần làm giàu sự hiểu biết của học sinh về quê hương. Trên cơ sở đó giáo dục lòng tự hào yêu quý quê hương nơi chôn rau cắt rốn,đây chính là cội nguồn của lòng yêu tổ quốc dân tộc.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.2. Biên soạn bài giảng lịch sử địa phương ở trường THCS
Bố cục nội dung của một bài giảng lịch sử địa phương có thể bao gồm các phần, mục, ý chính sau đây:
1. Bối cảnh lịch sử diễn ra các sự kiện lịch sử ở địa phương mà học sinh đang học.
1.1. Tình hình chính trị kinh tế, xã hội phong trào cách mạng chung của cả nước.
Mục này chỉ cần nêu lên những nét cơ bản, ngắn gọn giúp học sinh nhớ lại những kiến thức đã học ở các bài lịch sử dân tộc. Giáo viên có thể nêu câu hỏi để học sinh trả lời, giáo viên bố sung và chuyển tiếp sang bối cảnh riêng, cụ thể của địa phương.
1.2 Tình hình cụ thể của địa phương trong bối cảnh chung của lịch sử cả nước.
Mục này cần chú ý trình bày cụ thể, đầy đủ hơn để học sinh nhận thức được hết khó khăn thử thách mà nhân dân địa phương phải vượt qua để làm cho học sinh hiểu được sâu sắc hơn sử gắn bó mật thiết giữa lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương mình ( xã hay huyện ).
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.2. Biên soạn bài giảng lịch sử địa phương ở trường THCS
2. Diễn biến cụ thể của các sự kiện lịch sử địa phương:
Đây là phần quan trọng, muốn vậy bài giảng phải có nhiều sự kiện lịch sử địa phương cụ thể chịnh xác tiêu biểu để tạo được biểu tượng cho học sinh về quá khứ, khắc phục tình trạng đơn điệu, sơ lược ,thiếu sử liệu cơ bản.
Cố gắng đưa vào bài giảng các loại tài liệu văn kiện, tranh ảnh trực quan để gây cảm xúc hứng thú học tập,kết hợp vởi bản đồ, sa bàn về diễn biến sự kiện xảy ra càng tốt.
Cần có các câu hỏi bài tập thực hành để rèn luyện khả năng quan sát, phát triển tư duy và việc tham gia xây dựng bài giảng cho học sinh.
Kết thúc bài giảng, giáo viên nêu ra bài tập, chủ yếu để rèn luyện phương pháp sưu tầm tài liệu lịch sử địa phương của học sinh.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.3. Một số hình thức bài giảng lịch sử địa phương
4.3.1. Dạy học một bài lịch sử địa phương tại thực địa
- Về soạn , giảng một bài lịch sử địa phương tại thực địa:
Tức là thực hiện việc dạy học tại nơi đã từng diễn ra sự kiện lịch sử được chọn làm nội dung bài giảng. Thường có hai loại bài giảng lịch sử địa phương được dạy tại thực địa
Thứ nhất, những bài giảng về một sự kiện lớn ,đã từng diễn ra ở đó.
Thứ hai, những bài giảng về lịch sử dân tộc nhưng nội dung có liên quan đến địa phương.
Bài giảng tại tực địa phải đảm bảo hai yêu cầu sau:
Nội dung phải đáp ứng những yêu cầu, mục tiêu của bài học không được biến nó thành buổi tham quan di tích hay nói chuyện ngoại khóa lịch sử
Thứ hai, bài học tại thực địa có nhữn đặc điểm riêng ,phải giúp cho học sinh “ Trực quan sinh động “ những sự kiện lịch sử chân thực , gây cho học sinh những ấn tượng mạnh mẽ, những cảm xúc sâu đậm.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.3. Một số hình thức bài giảng lịch sử địa phương
4.3.1. Dạy học một bài lịch sử địa phương tại thực địa
- Về sử dụng tài liệu lịch sử địa phương vào bài giảng lịch sử dân tộc.
Khi giảng một tiết học về lịch sử dân tộc có liên quan đến địa phương, diễn ra ở địa phương thì nhất thiết phải có tài liệu lịch sử địa phương để minh họa, bổ sung cụ thể hóa cho nội dung SGK. Thông thường các tài liệu lịch sử địa phương có liên quan chặt chẽ với lịch sử cả nước được sử dụng vào các bài giảng nội khóa, cần khai thác phân tích chúng để có được tác dụng làm rõ vai trò của địa phương đối với những sự kiện có ý nghĩa toàn quốc, có thể dùng làm tài liệu bổ sung cho việc nhận thức sự kiện cơ bản. Ví dụ : Khi trình bày về nạn đói năm 1944- 1945 , các tài liệu lịch sử địa phương sẽ minh họa cụ thể hóa, làm phong phú hơn sự kiện này.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.3.2. Nói chuyện lịch sử địa phương:
Hướng dẫn học sinh sưu tập tài liệu, và biên soạn thành bài để trình bày trong những buổi nói chuyện lịch sử địa phương. Buổi nói chuyện lịch sử địa phương có thể tiến hành trong những dịp địa phương có những ngày lễ kỉ niệm, hội hè truyền thống… Bài nói chuyện lịch sử địa phương giúp cho em biết cách lựa chọn và biên soạn tài liệu theo các chủ đề, những kĩ năng phân tích, đánh giá, bình luận, nhận xét, so sánh những vấn đề lịch sử. Mặt khác cũng rèn luyện khả năng lôi cuốn thu hút người nghe bằng những hiểu biết và cách diễn đạt súc tích gây ấn tượng và giầu tính thuyết phục của mình.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.3.3. Dạ hội lịch sử địa phương
Dùng tài liệu lịch sử để tổ chức học sinh tiến hành dạ hội lịch sử địa phương. Có thể biên soạn thành những vở kịch, hoạt cảnh lịch sử để học sinh luyện tập biểu diễn, hoặc nêu ra các câu hỏi trong trò chơi “hái hoa dân chủ” để học sinh trả lời.
Cũng có thể tổ chức lửa trại truyền thống địa phương…. Hoạt động này có nhiều tác dụng: lôi kéo được đông đảo học sinh tham gia, rèn luyện tính tập thể, ý thức kỷ luật, ôn tập củng cố kiến thức, bồi dưỡng truyền thống dân tộc và cách mạng cho thế hệ trẻ.
- Ngoài ra còn có thể tổ chức học sinh đọc sách lịch sử, sưu tập nghiên cứu các cuốn hồi ký của những người đã từng hoạt động ở địa phương, tổ chức gặp mặt trao đổi tọa đàm giữa các thế hệ trong những ngày hội truyền thống ở địa phương…
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CỦA
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG
4.3.3. Dạ hội lịch sử địa phương
- Tất cả những hình thức hoạt động ngoại khóa nói trên đều là những hình thức học tập bổ ích và hấp dẫn. Tuy nhiên, những hoạt động đó luôn cần sự chỉ dẫn, định hướng và tổ chức của giáo viên bộ môn lịch sử. Những hình thức hoạt động ngoại khóa cần mở rộng giao lưu, kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn, các tổ chức đoàn thể, và giữa các trường hộc ở địa phương. Nguyên tắc xuyên suốt các hoạt động đó là mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục, rèn luyện và phát triển học sinh qua tri thức lịch sử địa phương.

MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CỦA HÀ NỘI
1. Thám hoa Giang Văn Minh - Sứ thần "Bất nhục quân mệnh”
Giang Văn Minh (1573 - 1638) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi.
2. Tể tướng Nguyễn Quý Đức
Tục ngữ xưa có câu “Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót” để chỉ những làng của huyện Từ Liêm cũ có nhiều người hiển đạt và nổi tiếng về văn học. Xếp hàng đầu là làng Thiên Mỗ (nay là xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm thuộc ngoại thành Hà Nội), vì có gia đình Nguyễn Quý Đức. Nguyễn Quý Đức và con là Nguyễn Quý Ân đều đỗ tiến sĩ, cháu nội là Nguyễn Quý Kính đỗ hương cống, ba đời đều giữ vững chức vụ trọng yếu trong triều, khi mất đều được phong làm phúc thần.
MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CỦA HÀ NỘI
3. PHÙNG KHẮC KHOAN (1528-1613): SỨ GIẢ "TOÀN QUÂN MỆNH - TRÁNG QUỐC UY”
Phùng Khắc Khoan quê làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, trấn Sơn Tây, nay thuộc Hà Tây. Khắc Khoan là tên huý, tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai, biệt hiệu là Mai Nham Tử. Khi trở thành vật tài ba đức độ ở đời, dân tôn xưng ông là Trạng Bùng (ông trạng làng Bùng), khi từ chương, sứ sự nổi danh lại được đời phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên, chứ thực ra ông không hề thi đỗ Trạng nguyên ở ta cũng như ở Tàu bao giờ cả.
4. Trận Tốt Động - Chúc Động
Trận Tốt Động - Chúc Động là trận đánh diễn ra trong các ngày 5-7 tháng 11 năm 1426, giữa nghĩa quân của cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn với quân nhà Minh đóng ở Đông Quan (tức là Thăng Long, Hf Nội). Đây là một chiến thắng quân sự lớn của nghĩa quân Lam Sơn và được nhắc đến trong Bình Ngô đại cáo.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm;
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.



MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CỦA HÀ NỘI
5. Trung tướng Doãn Tuế
Trung tướng Doãn Tuế (1917-1995), còn có tên gọi khác là Nguyễn Trung, quê làng An Lãng xã Văn Tự huyện Thường Tín thành phố Hà Nội), Nguyên Tư lệnh binh chủng pháo binh, Quân đội Nhân dân Việt Nam (1968 - 1971), Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1978 - 1988).
6. Quần thể di tích cách mạng và kháng chiến Khu Cháy
Khu Cháy là vùng đồng chiêm trũng rộng lớn ở Đông - Nam huyện Ứng Hoà, bao quanh bốn mặt là các tuyến đường 75 ở phía Bắc, đường 60 ở phía Nam, sông Nhuệ ở phía Đông và tuyến đê sông Đáy ở phía Tây. Đường 75 cắt ngang khu Cháy từ Vân Đình qua Phương Tú, Trung Tú, Đồng Tân, Minh Đức sang cầu Giẽ ở Phú Xuyên giữa năm 1942, Xứ uỷ Bắc kỳ chọn khu Nam Ứng Hoà và Bắc Kim Bảng (Hà Nam) làm An toàn khu để bảo vệ, trong đó Tảo Khê - Trầm Lộng là những cơ sở trung tâm. Ở đây còn lưu dấu nhiều di tích cách mạng mặc dù không ít di tích bị chiến tranh, thời gian huỷ hoại và biến dạng.
MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG CỦA HÀ NỘI
7. Tô Hiến Thành ( 1102 – 1179)
8. Thám hoa - Vũ Phạm Hàm ( 1864 – 1906)
Vũ Phạm Hàm (1864 - 1906) là Nhất giáp Tam nguyên trong ba kỳ thi triều nhà Nguyễn (lúc ông 29 tuổi). Trong Lịch sử Việt Nam chỉ có vài Tam nguyên là Đệ nhất giáp, gồm có Phạm Đôn Lê, Vũ Dương, Lê Quý Đôn (triều Lê) và ông.

 
Gửi ý kiến